
1. Quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
Điều 125 Luật hôn nhân và gia đình (HNGĐ) năm 2014 quy định hai trường hợp có thể ghi nhận bản án ly hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, đó là khi bản án, quyết định ly hôn ở nước ngoài có yêu cầu công nhận và cho thi hành (hoặc có yêu cầu không công nhận) tại Việt Nam thì thực hiện theo thủ tục tố tụng; nếu bản án, quyết định ly hôn không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam và cũng không có yêu cầu không công nhận tại Việt Nam thì có thể làm thủ tục ghi chú ly hôn. Tuy nhiên, việc áp dụng Fv88 com Nhà Cái Fv88 về hộ tịch để công nhận bản án, quyết định ly hôn, bản thỏa thuận ly hôn hoặc giấy tờ khác công nhận việc ly hôn trong trường hợp thứ hai không thuộc phạm vi nghiên cứu của bài viết này, nên tác giả chỉ tập trung phân tích quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam dưới góc độ tư pháp.
- Thẩm quyền xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về ly hôn của Tòa án nước ngoài:
Về thẩm quyền, khoản 9 Điều 29 Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 (BLTTDS năm 2015) ghi nhận: “Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định về HNGĐ của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về HNGĐ của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam” là việc HNGĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Cụ thể, Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại điểm b khoản 1 Điều 37, điểm d khoản 2 Điều 39 BLTTDS năm 2015 có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài.
- Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định về ly hôn của Tòa án nước ngoài:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 425 BLTTDS năm 2015, người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Về thời hiệu yêu cầu, so với quy định trước đây[1], khoản 1 Điều 432 BLTTDS năm 2015 điều chỉnh thời hiệu yêu cầu công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài theo hướng tăng lên. Cụ thể là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có hiệu lực Fv88 com Nhà Cái Fv88.
Đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu gửi kèm theo cần thực hiện theo quy định tại các điều 433, 434 BLTTDS năm 2015. Theo đó, nếu đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu được viết bằng tiếng nước ngoài thì phải gửi kèm theo bản dịch ra tiếng Việt, được công chứng, chứng thực hợp pháp; gửi kèm theo đơn là bản chính hoặc bản sao có chứng thực bản án, quyết định do Tòa án nước ngoài cấp; văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan khác có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực Fv88 com Nhà Cái Fv88, chưa hết thời hiệu thi hành và cần được thi hành tại Việt Nam, trừ trường hợp trong bản án, quyết định đó đã thể hiện rõ những nội dung này; văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận kết quả tống đạt hợp lệ bản án, quyết định đó cho người phải thi hành; văn bản của Tòa án nước ngoài hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài xác nhận người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của người đó đã được triệu tập hợp lệ trong trường hợp Tòa án nước ngoài ra bản án vắng mặt họ. Đơn yêu cầu được gửi đến Bộ Tư pháp Việt Nam[2], trường hợp Bộ Tư pháp nhận được đơn yêu cầu và giấy tờ, tài liệu hợp lệ thì trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Bộ Tư pháp phải chuyển cho Tòa án có thẩm quyền[3].
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp mà Tòa án có thể quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoặc mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Cần lưu ý, khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định, mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định tại Chương XXXV và Chương XXXVI BLTTDS năm 2015, các quy định khác có liên quan của Fv88 com Nhà Cái Fv88 Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên để làm cơ sở cho việc ra quyết định công nhận và cho thi hành hoặc không công nhận bản án, quyết định đó[4]. Quy định này có nét tương đồng với Fv88 com Nhà Cái Fv88 một số quốc gia như Cộng hòa Pháp (Fv88 com Nhà Cái Fv88 quốc gia này cũng có nguyên tắc không xem xét lại nội dung vụ việc - Non révision au fond). Theo đó, Tòa án Cộng hòa Pháp khi được yêu cầu công nhận và cho thi hành sẽ không xem xét lại nội dung vụ việc mà chỉ ra quyết định có hay không công nhận bản án dân sự của Tòa án nước ngoài, dựa trên việc xem xét các điều kiện về thẩm quyền và thủ tục[5].
2. Thực tiễn công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam
Theo thống kê[6], có 26 đơn yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Trong đó, liên quan đến HNGĐ có 14 đơn, chiếm tỉ lệ 53,84%, với 3 đơn yêu cầu bị đình chỉ do bên yêu cầu rút đơn, 01 đơn yêu cầu bị đình chỉ do người được thi hành chưa có đủ tài liệu, chứng cứ theo quy định của Fv88 com Nhà Cái Fv88 để Tòa án giải quyết[7], 02 đơn bị từ chối công nhận và cho thi hành tại Việt Nam[8]. Dựa vào số liệu này, có thể thấy thực tiễn ngày càng có nhiều vụ việc HNGĐ có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, các Tòa án Việt Nam cũng đã vận dụng hiệu quả các quy định của Fv88 com Nhà Cái Fv88 về vấn đề này để cho phép công nhận, cho thi hành các bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài.
Tuy nhiên, các yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam có xu hướng tăng nhanh, chiếm tỉ lệ cao so với bản án, quyết định về dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, nhưng Fv88 com Nhà Cái Fv88 điều chỉnh vấn đề này chỉ dừng lại ở quy định chung là chưa phù hợp với thực tiễn. Bởi lẽ, quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài không chỉ tác động đến quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài, mà những chủ thể trong quan hệ này còn phải chịu thêm những hệ quả riêng do đặc thù của quan hệ nhân thân, tài sản giữa vợ và chồng (vốn gắn bó mật thiết và có những quyền, nghĩa vụ riêng biệt). Một số vướng mắc về vấn đề này trong thực tiễn như sau:
Thứ nhất, về xác định chủ thể có quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài. Hiện nay, khoản 1 Điều 425 BLTTDS năm 2015 chỉ cho phép “người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ” thực hiện quyền này, mà không bao gồm người phải thi hành. “Tức là nếu người phải thi hành, vì một lý do nào đó, mong muốn và có yêu cầu được công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự này tại Việt Nam thì chỉ có cách tự nguyện thi hành mà không có cơ sở pháp lý điều chỉnh”[9]. Điều này có thể dẫn đến việc không đảm bảo quyền lợi cho người phải thi hành trong trường hợp vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài được xét xử ở nhiều nước hay tình trạng “đa phán quyết” và họ có mong muốn thi hành phán quyết của Tòa án nước ngoài có lợi nhất. Ví dụ: Bản án ly hôn lần lượt được đưa ra tại nước A, nước B nhưng xét về tổng thể cũng như sự hợp lý thì người phải thi hành mong muốn bản án của Tòa án nước A được công nhận tại Việt Nam; từ đó họ sẽ thi hành nghĩa vụ tại Việt Nam theo phán quyết của Tòa án nước A, mà không phải là phán quyết của Tòa án nước B. Tuy nhiên, theo quy định của BLTTDS năm 2015 thì người phải thi hành không có quyền nộp đơn yêu cầu công nhận bản án, quyết định.
Có quan điểm cho rằng, khoản 2 Điều 425 BLTTDS năm 2015 đã cho phép người phải thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. So với BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011, quy định trên được đánh giá là điểm tiến bộ pháp lý đáng ghi nhận[10], bởi đã tạo ra hành lang pháp lý cho phép người phải thi hành bản án, quyết định ly hôn có khả năng yêu cầu Tòa án không công nhận bản án, quyết định ly hôn, kể cả trong trường hợp bản án, quyết định ly hôn đó đang có hoặc không có yêu cầu thi hành. Vấn đề đặt ra là: Quy định này cho phép người phải thi hành có quyền yêu cầu không công nhận bản án, quyết định ly hôn, nhưng lại chưa giải quyết trường hợp người được thi hành và người thi hành cùng lúc sử dụng quyền tại khoản 1 và khoản 2 Điều 425 BLTTDS năm 2015. Cơ quan tài phán trong trường hợp này cần xử lý như thế nào để đảm bảo quyền lợi cho các bên? Bởi lẽ, khoản 4 điều 438 BLTTDS năm 2015 quy định: “Khi xem xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành, Hội đồng không được xét xử lại vụ án đã được Tòa án nước ngoài ra bản án, quyết định”. Nói cách khác, khi vụ việc đã được giải quyết theo quy định nước ngoài thì Tòa án không được xét xử lại, mà chỉ xem xét việc công nhận và cho thi hành có trái với nguyên tắc cơ bản của Fv88 com Nhà Cái Fv88 Việt Nam hay không. Điều này dẫn tới sự lúng túng của một số cơ quan tố tụng cũng như việc chậm trễ thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên; thậm chí các bên tiếp tục phải khởi kiện tại Việt Nam hoặc Tòa án một nước khác, tiêu tốn thời gian, chi phí khi tranh chấp kéo dài.
Thứ hai, về thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài. Điều 432 BLTTDS năm 2015 quy định thời hiệu này là 03 năm. Vấn đề đặt ra là: Trong trường hợp không có yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài của một hoặc các bên thì Tòa án có được chủ động áp dụng quy định về thời hiệu này hay không? Bởi lẽ, theo Điều 184 BLTTDS năm 2015 thì Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một hoặc các bên. Tuy nhiên, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài là một thủ tục khá đặc trưng, không phụ thuộc hay chịu sự điều chỉnh của quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự[11]. Do đó, có nhiều quan điểm trái chiều về việc có hay không sự cần thiết của yêu cầu từ người được thi hành, người có quyền, lợi ích hợp pháp liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trong việc áp dụng quy định về thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài. Bên cạnh đó, các quy định của BLTTDS năm 2015 cũng không đề cập đến hậu quả pháp lý khi người yêu cầu vi phạm thời hiệu nộp đơn yêu cầu[12]. Việc không quy định rõ ràng trường hợp này sẽ dẫn đến việc áp dụng luật không thống nhất giữa các Tòa án, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.
3. Một số kiến nghị, đề xuất
Thứ nhất, về chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu, để cân bằng hơn về quyền lợi của người được thi hành và người phải thi hành, cũng như để “hài hòa hóa” nội dung với Fv88 com Nhà Cái Fv88 nước ngoài và điều ước quốc tế, “quy định về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam nên đề cập trường hợp người phải thi hành có quyền nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành”[13]. Theo tác giả, cần sửa đổi khoản 1 Điều 425 BLTTDS năm 2015 theo hướng bổ sung quyền của bên phải thi hành yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, cụ thể: “Người được thi hành, người phải thi hành, hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu Tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài, nếu cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam hoặc tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài có tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu”.
Thứ hai, cần quy định rõ về thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài. Quy định về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự tại khoản 1 Điều 184 BLTTDS năm 2015 dẫn chiếu đến Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự; theo đó, khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”. Có thể hiểu rằng, việc áp dụng thời hiệu phải do chính các chủ thể trong quan hệ đó quyết định, nói cách khác, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu. Đây là quy định mang tính nhân văn, đặc biệt là khi quan hệ HNGĐ còn ảnh hưởng tới các chủ thể liên quan khác như cha mẹ, con chung - là những quan hệ phát sinh quyền và nghĩa vụ gắn với vợ chồng lâu dài. Do đó, Tòa án không nên tước đi quyền yêu cầu của các bên với lý do hết thời hiệu.
Ví dụ: Quyết định số 15/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/4/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh N về yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án về HNGĐ của Tòa án nước ngoài. Ngày 07/11/2019, Tòa án huyện P, Cộng hòa Séc, đã ra bản án ly hôn giữa chị A và anh D. Bản án có hiệu lực ngày 07/12/2019, nhưng hồ sơ cho thấy việc dân sự này được thụ lý ngày 26/12/2022, tức là đã quá thời hạn 03 năm mà Tòa án vẫn thụ lý và mở phiên họp sơ thẩm.
Như vậy, thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự nói chung, ly hôn nói riêng cần bám sát tinh thần của Bộ luật Dân sự năm 2015. Theo đó, Điều 432 BLTTDS năm 2015 cần xác định: “Việc áp dụng thời hiệu yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn phải trên cơ sở có yêu cầu từ chủ thể có quyền yêu cầu”.
Thứ ba, để giảm tình trạng quá tải của Tòa án cũng như hạn chế xung đột Fv88 com Nhà Cái Fv88[14], tại thời điểm có đơn yêu cầu, khởi kiện, các bên đương sự cần được tư vấn về hệ quả nếu lựa chọn Tòa án theo ý chí của mình. Bởi lẽ, nếu Tòa án nước ngoài xét xử vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền riêng biệt của Việt Nam thì bản án, quyết định ly hôn đó sẽ không được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam khi có yêu cầu. Với tính chất đặc biệt của bản án ly hôn so với các bản án dân sự khác (bản án ly hôn thường liên quan không chỉ về nhân thân, mà còn về phân chia tài sản và cấp dưỡng nuôi con) và trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng ở khu vực và quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ của giao lưu kinh tế - thương mại, văn hóa, du lịch giữa Việt Nam với các nước, hôn nhân với người nước ngoài là một xu hướng tất yếu” thì cần xem xét ban hành quy định riêng hoặc sửa đổi, bổ sung BLTTDS năm 2015 theo hướng mở rộng vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam.
Nguyễn Phương Ân
-----------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Huỳnh Anh, Bùi Thị Mỹ Hương (2019), “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam”, Tạp chí Công thương, https://tapchicongthuong.vn/cong-nhan-va-cho-thi-hanh-ban-an--quyet-dinh-dan-su-cua-toa-an-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-64156.htm, truy cập ngày 01/11/2024.
2. Cơ sở dữ liệu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài (ngày 25/9/2020), Trang thông tin điện tử Fv88 com Nhà Cái Fv88 quốc tế - Bộ Tư pháp, https://moj.gov.vn/tttp/Pages/dlcn-va-th-tai-Viet-Nam.aspx, truy cập ngày 01/6/2024.
3. Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2019), Tài liệu định hướng về HNGĐ có yếu tố nước ngoài, Nxb. Phụ nữ Việt Nam.
4. Stellina Jolly, Prakriti Malla (2022), “Recognition and Enforcement of Foreign Divorce Judgments in India and Nepal: A Comparative Analysis”, Global Journal of Comparative Law.
5. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật HNGĐ, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam.
[1] Điều 350 và Điều 364 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 không quy định về thời hạn nộp đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài. Tuy nhiên, theo khoản 4 Điều 159 Bộ luật này, trong trường hợp Fv88 com Nhà Cái Fv88 không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là 01 năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu.
[2] Khoản 1 Điều 432 BLTTDS năm 2015.
[3] Điều 435 BLTTDS năm 2015.
[4] Khoản 4 Điều 438 BLTTDS năm 2015.
[5] Cour de Cassation, Chambre civile 1, https://www.courdecassation.fr/jurisprudence_2/premiere_chambre_civile_568/260_20_41727.html, truy cập ngày 29/5/2024.
[6] Cơ sở dữ liệu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài (cập nhật đến ngày 25/9/2020), Trang thông tin điện tử Fv88 com Nhà Cái Fv88 quốc tế - Bộ Tư pháp, https://moj.gov.vn/tttp/Pages/dlcn-va-th-tai-Viet-Nam.aspx, truy cập ngày 01/6/2024.
[7] Quyết định số 01/2019/QĐST-HNGĐ ngày 23/9/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
[8] Quyết định số 52/2017/QĐDS-ST ngày 28/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang; Quyết định số 14/2016/QĐ-ST ngày 13/12/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam.
[9] Nguyễn Huỳnh Anh, Bùi Thị Mỹ Hương (2019), Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam, Tạp chí Công thương, https://tapchicongthuong.vn/cong-nhan-va-cho-thi-hanh-ban-an--quyet-dinh-dan-su-cua-toa-an-nuoc-ngoai-tai-viet-nam-64156.htm, truy cập ngày 01/6/2024.
[10] Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2022), Giáo trình Luật HNGĐ, Nxb. Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, tr.555.
[11] Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự năm 2015 quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài tại Phần thứ bảy, độc lập với Phần thứ sáu về thủ tục giải quyết việc dân sự.
[12] Khoản 5 Điều 437 BLTTDS năm 2015 cũng không quy định trường hợp liên quan đến hết thời hiệu yêu cầu.
[13] Nguyễn Huỳnh Anh, Bùi Thị Mỹ Hương (2019), tlđd, truy cập ngày 01/11/2024.
[14] Có những vụ việc Tòa án Việt Nam xác định thuộc thẩm quyền riêng và đưa ra phán quyết theo Điều 470 BLTTDS năm 2015, nhưng các quốc gia cũng cho rằng họ có thẩm quyền xử lý cùng vụ việc, dẫn đến sự xung đột Fv88 com Nhà Cái Fv88 khi Tòa án Việt Nam không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của Tòa án nước ngoài tại Việt Nam theo Điều 439 BLTTDS năm 2015.
Bài viết chưa có bình luận nào.