
Ở các nước phát triển, đột quỵ não là nguyên nhân hàng đầu gây tàn phế và là nguyên nhân đứng hàng thứ ba gây tử vong, sau bệnh tim mạch và ung thư. Tỷ lệ đột quỵ não được dự báo sẽ tăng lên nhanh chóng và sẽ đạt 1,2 triệu người mắc mới mỗi năm vào năm 2025. Tại Việt Nam, cùng với mức sống của người dân ngày càng được cải thiện, lối sống thay đổi theo hướng giảm vận động, tuổi thọ tăng thì nguy cơ xuất hiện các bệnh lý đột quỵ não, đặc biệt là nhồi máu não cũng gia tăng.
Hội thảo khoa học chuyên đề “Điều trị bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cấp” được tổ chức với mục đích cập nhật, giới thiệu các kỹ thuật trong điều trị bệnh nhân đột quỵ não cấp để thống nhất các chỉ định và mức độ áp dụng kỹ thuật đảm bảo chất lượng điều trị và tận dụng thời gian vàng của bệnh nhân, đồng thời giúp các bệnh viện kiện toàn và phát triển các kỹ thuật.

Các dấu hiệu nhận biết đột quỵ bao gồm: nói ngọng, liệt mặt (méo miệng), liệt nửa người, đau đầu đột ngột, chóng mặt, mất thị lực đột ngột… Cách đơn giản là yêu cầu người bệnh: CƯỜI – NÓI – CHÀO VÀ QUAN SÁT”. Nếu thấy người bệnh có những dấu hiệu trên thì lập tức gọi cấp cứu 115 để đưa người bệnh đến bệnh viện. Thời gian vàng để xử trí hiệu quả bệnh đột quỵ là trong vòng 3 tiếng. Các bác sỹ cũng khuyến cáo tuyệt đối không tự ý điều trị cho người bệnh dù chỉ là bấm huyệt, châm cứu hay đánh gió vì những tác động này vô tình có thể làm cho tình trạng bệnh trở nên trầm trọng hơn. Không tự ý dùng thuốc huyết áp, chỉ dùng thuốc hạ huyết áp khi huyết áp > 180/100mmHg (không dùng thuốc hạ huyết áp dạng nhỏ dưới lưỡi).
Theo TS. Vũ Đăng Lưu, Phó trưởng khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Bạch Mai, trong điều trị bệnh đột quỵ hiện nay có 2 phương pháp chính được sử dụng thường quy. Phương pháp đầu tiên là điều trị bằng thuốc tiêu sợi huyết qua đường tĩnh mạch. Phương pháp này được thế giới nghiên cứu và công nhận là có hiệu quả từ năm 1995, áp dụng lần đầu tại Việt Nam năm 2007 và tại Bệnh viện Bạch Mai từ năm 2009. Tuy nhiên cửa sổ điều trị ngắn nên chỉ áp dụng cho các bệnh nhân đến viện sớm trong vòng 4, 5 tiếng đầu sau khởi phát do tắc các mạch máu vừa và nhỏ. Phương pháp thứ hai là điều trị can thiệp qua đường động mạch để lấy huyết khối bằng các dụng cụ cơ học. Đây là kỹ thuật hiện đại có tỷ lệ tái thông cao với cửa sổ điều trị mở rộng thành 6 tiếng với vòng tuần hoàn trước và 12 tiếng với vòng tuần hoàn sau. Có nhiều loại dụng cụ lấy huyết khối cơ học mà gần đây nhất là sự ra đời stent Solitaire vào năm 2010. Cho đến nay, lấy huyết khối bằng dụng cụ cơ học dạng Stent đã được triển khai trong rất nhiều các nghiên cứu – thử nghiệm tại các trung tâm lớn trên thế giới với hiệu quả rõ rệt và được đưa vào quy trình khuyến cáo sử dụng tại các nước phát triển. Ở Việt Nam, kỹ thuật này được áp dụng đầu tiên tại bệnh viện Bạch Mai tháng 5.2012 tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh và được báo cáo lần đầu qua hai ca lâm sàng.
TS Mai Duy Tôn, Khoa Cấp cứu Bệnh viện Bạch Mai cho biết: hiện nay, Kỹ thuật tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch đã được Bệnh viện Bạch Mai hỗ trợ, triển khai ở nhiều bệnh viện tuyến tỉnh như: Bệnh viện Hà Nam, Ninh Bình, Phú Thọ, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Bãi Cháy, ĐK Phố Nối, Hải Dương, Saintpaul, Thanh Nhàn, Bắc Ninh…. Còn kỹ thuật lấy huyết khối cơ học đường động mạch có thể thực hiện tại Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện 108.
Tin và ảnh: Lan Chi/ ĐBND
Bài viết chưa có bình luận nào.