Bàn về nghĩa vụ hình thành trong tương lai và phạm vi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật Dân sự năm 2015

Ngày đăng : 10:40, 09/03/2026

(Fv88.online) - Hiện nay còn các quan điểm khác nhau về việc người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác trong hợp đồng thế chấp hoặc cầm cố mà nghĩa vụ trong hợp đồng bảo đảm là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo đảm có bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi bên bảo đảm chết (cá nhân) hoặc chấm dứt tồn tại (pháp nhân) hay không? Bài viết sau đây luận bàn và nêu quan điểm của tác giả của vấn đề này.

1. Nghĩa vụ hình thành trong tương lai trong chế định “Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ” của Bộ luật Dân sự năm 2015

Trước đây, Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2005 mới chỉ đề cập sơ lược về nghĩa vụ hình thành trong tương lai tại khoản 2 Điều 319 như sau: “Các bên được thỏa thuận về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự để bảo đảm thực hiện các loại nghĩa vụ, kể cả nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện”.

Điều 293 BLDS năm 2015 quy định về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm đã đề cập đến nghĩa vụ hình thành trong tương lai ở khoản 2 và khoản 3 như sau: “… 2. Nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện. 3. Trường hợp bảo đảm nghĩa vụ trong tương lai thì nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm là nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, Điều 294 BLDS năm 2015 quy định: “1. Trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong tương lai, các bên có quyền thỏa thuận cụ thể về phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp Fv88 com Nhà Cái Fv88 có quy định khác. 2. Khi nghĩa vụ trong tương lai được hình thành, các bên không phải xác lập lại biện pháp bảo đảm đối với nghĩa vụ đó”.

Trong 09 biện pháp bảo đảm quy định tại Điều 292 BLDS năm 2015 không có điều khoản nào đề cập đến nghĩa vụ hình thành trong tương lai, trừ biện pháp bảo đảm “bảo lãnh”. Khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 quy định về nghĩa vụ hình thành trong tương lai: “Trường hợp nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấp dứt tồn tại”.

Có thể thấy, Điều 293 BLDS năm 2015 đề cập đến 02 nội dung thuộc nội hàm phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm gồm: (1) Tính tổng thể về số lượng, giá trị vật chất (toàn bộ hay một phần) của nghĩa vụ được bảo đảm; (2) Phạm vi mang tính thời gian là “nghĩa vụ được hình thành trong thời hạn bảo đảm” là nghĩa vụ được bảo đảm. Tại khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 chỉ đề cập đến nghĩa vụ phát sinh vào thời điểm nào so với thời điểm bên bảo đảm chết để xác định trách nhiệm của bên bảo đảm, mà không đề cập đến thời hạn bảo đảm còn hay hết để xác định trách nhiệm bên bảo đảm trong bảo lãnh.

Vậy nội dung thứ nhất của Điều 293 BLDS năm 2015 có được áp dụng cho cả biện pháp bảo đảm bằng bảo lãnh hay không, vì không có quy định nào loại trừ áp dụng về biện pháp bảo đảm bằng bảo lãnh tại điều này. Mặt khác, các khoản 1, 2 Điều 336 BLDS năm 2015 cũng đề cập đến phạm vi bảo lãnh. Điều đó có nghĩa là bên bảo lãnh có thể bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ, phạm vi bảo lãnh và hình thức bảo lãnh (bằng tài sản, bằng việc thực hiện một hành vi, một công việc cụ thể hay dùng uy tín, danh dự để bảo lãnh) phụ thuộc vào thỏa thuận của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Đối với nội dung thứ hai của Điều 293 mang tính thời gian thì khoản 4 Điều 336 cũng là một loại quy định có tính thời gian, nhưng không căn cứ vào “thời hạn bảo đảm” mà căn cứ thời điểm (một khoảng thời gian ngắn) phát sinh nghĩa vụ so với thời điểm người bảo đảm chết để xác định trách nhiệm hay loại trừ trách nhiệm bảo đảm.

Các điều 293, 294 BLDS năm 2015 chỉ đề cập phạm vi bảo đảm đối với nghĩa vụ hình thành trong tương lai (bảo đảm toàn bộ hay một phần), quyền thỏa thuận của các bên khi bảo đảm thực hiện nghĩa vụ này và thời điểm phát sinh hoặc không phát sinh trách nhiệm của bên bảo đảm nghĩa vụ hình thành trong tương lai, ngoài ra không có quy định nào về những tình huống có thể xuất hiện tương tự như tình huống quy định tại khoản 4 Điều 336 Bộ luật này.

Trong các biện pháp bảo đảm bằng “cầm cố”, “thế chấp”… cũng không quy định về bảo đảm nghĩa vụ hình thành trong tương lai và khi bên cầm cố, thế chấp… chết hay chấm dứt tồn tại mà nghĩa vụ hình thành trong tương lai “phát sinh sau khi bên bảo đảm chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại” thì trách nhiệm của bên bảo đảm sẽ như thế nào?  Vấn đề đặt ra là: (1) Các bên tham gia biện pháp bảo đảm bằng “cầm cố”, “thế chấp”… có được tham gia bảo đảm nghĩa vụ hình thành trong tương lai hay không. Theo quan điểm của tác giả, dù trong các biện pháp bảo đảm đó không quy định về vấn đề này, nhưng không có quy định cấm hay hạn chế nào ở phần quy định chung hay ở bất kỳ quy định nào khác nên các chủ thể tham gia quan hệ bảo đảm bằng “cầm cố”, “thế chấp”… có quyền bảo đảm cho nghĩa vụ hình thành trong tương lai; (2) Hình thức bảo đảm bằng biện pháp “bảo lãnh” cũng được bảo đảm cho nghĩa vụ hình thành trong tương lai. Tuy nhiên, theo điểm 4 Điều 336 BLDS năm 2015 thì: “Phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại”. Theo đó, khi bên bảo lãnh chết hay chấm dứt tồn tại thì việc bảo lãnh không còn giá trị với nghĩa vụ phát sinh sau thời điểm bên bảo lãnh chết hay pháp nhân chấm dứt tồn tại. 

Căn cứ khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 thì “phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại”, do đó, khi nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thuộc quan hệ bảo đảm bằng hình thức “bảo lãnh” thì người bảo lãnh chỉ phải thực hiện trách nhiệm bảo lãnh trong 02 trường hợp: (1) Đã xuất hiện căn cứ bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh từ trước thời điểm bên bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại, nhưng người bảo lãnh chưa thực hiện thì đã chết hay chấm dứt tồn tại; (2) Đã xuất hiện nghĩa vụ bảo lãnh trước thời điểm người bảo lãnh chết nhưng chưa đến thời điểm phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết.

Tuy nhiên, nếu nghĩa vụ bảo lãnh chưa phát sinh và sau khi người bảo lãnh chết mới phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh thì theo khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 người bảo lãnh không phải chịu trách nhiệm với nghĩa vụ bảo lãnh này. Điều đó có nghĩa là bảo lãnh nghĩa vụ trong tương lai thuộc biện pháp bảo đảm là “bảo lãnh” thì chỉ khi nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh, đã xuất hiện, bên bảo lãnh chết thì trách nhiệm bảo lãnh vẫn không thay đổi. Trường hợp người bảo lãnh chưa thực hiện trách nhiệm bảo lãnh, nhưng nếu người bảo lãnh đã cam kết sẽ dùng một hay một số tài sản cụ thể để bảo lãnh nghĩa vụ hình thành trong tương lai thì chỉ xử lý nghĩa vụ bảo lãnh trong phạm vi tài sản đó. 

Trường hợp bên bảo lãnh đưa ra cam kết sẽ dùng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của họ (không liệt kê dùng tài sản cụ thể nào) để bảo lãnh cho nghĩa vụ hình thành trong tương lai thì khi nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh trước thời điểm bên bảo lãnh chết thì số tài sản thuộc sở hữu của bên bảo lãnh sẽ được dùng để bảo đảm nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Sau khi người bảo lãnh chết, bên nhận bảo lãnh vẫn có quyền lấy tài sản thuộc di sản của người bảo lãnh để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Nếu những người thừa kế không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại, người nhận bảo lãnh có quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu những người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại theo Điều 637, Điều 615 BLDS năm 2015. Trường hợp khi người bảo lãnh chết mà nghĩa vụ hình thành trong tương lai chưa phát sinh, chỉ sau khi người bảo lãnh chết mới phát sinh thì người bảo lãnh không phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ mà mình cam kết. Khi người bảo lãnh không có nghĩa vụ này thì những người thừa kế của người chết không có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ mà người nhận bảo lãnh trong quan hệ bảo lãnh yêu cầu.

Do đó, tác giả cho rằng BLDS năm 2015 quy định “nghĩa vụ được bảo lãnh là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại” là chưa hợp lý, tạo rủi ro lớn cho bên nhận bảo đảm trong quan hệ bảo lãnh. Bởi lẽ, bên nhận bảo lãnh không thể kiểm soát hay biết được thời điểm người bảo đảm chết (cá nhân) hoặc chấm dứt tồn tại (pháp nhân).

Biện pháp bảo đảm bằng bảo lãnh có sự khác biệt so với các biện pháp bảo đảm khác như cầm cố, thế chấp... Người bảo lãnh không được hưởng lợi ích trong quan hệ bảo đảm đó, mà chỉ thực hiện vai trò là người cam kết thực hiện thay nghĩa vụ cho bên được bảo lãnh. Một khi họ tự nguyện tham gia quan hệ này thì họ phải chịu trách nhiệm với những nghĩa vụ đã cam kết, dù nghĩa vụ đó là nghĩa vụ hiện tại hay nghĩa vụ trong tương lai. Nếu người bảo lãnh cam kết dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo lãnh nghĩa vụ hình thành trong tương lai thì: “Nghĩa vụ hình thành trong thời hạn bảo đảm” (khoản 3 Điều 293) phải được xác định “là nghĩa vụ được bảo đảm” dù nghĩa vụ này có “phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại”(khoản 4 Điều 336) nhưng nó đã “hình thành trong thời hạn bảo đảm” thì người bảo lãnh vẫn phải có trách nhiệm. Nếu người bảo lãnh đã có cam kết cụ thể là “sử dụng biện pháp bảo đảm bằng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh” thì người thừa kế sẽ thực hiện nhiệm vụ này trong phạm vi di sản mà họ nhận được.

Tác giả nhận thấy quy định tại khoản 3 Điều 293 BLDS năm 2015 hoàn toàn áp dụng được cho bên bảo lãnh nghĩa vụ hình thành trong tương lai khi bên bảo lãnh dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, không nên quy định như khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015.

Do đó, cần bổ sung loại trừ trách nhiệm của người bảo lãnh chỉ trong trường hợp bên bảo lãnh cam kết thực hiện việc bảo lãnh bằng việc thực hiện một hành vi, một công việc mà nghĩa vụ này “phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại”. Bởi nếu người bảo lãnh đã cam kết thực hiện một hành vi, một công việc, nên không thể buộc bất kỳ ai kể cả người thừa kế thực hiện công việc đó khi người bảo lãnh chết.

Do khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 còn chưa hợp lý nên có quan điểm cho rằng trong trường hợp một bên bảo đảm nghĩa vụ cho người khác thì không được xác lập hợp đồng bảo đảm là bảo lãnh, mà phải thiết lập hợp đồng bảo đảm do người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho bên vay bằng hình thức “thế chấp”, “cầm cố”. Trong trường hợp này sẽ không gọi là người thứ ba bảo đảm mà dùng từ người khác bảo đảm nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ. Khi người khác bảo đảm nghĩa vụ cho bên có nghĩa vụ được xác lập bằng hình thức “cầm cố”, “thế chấp” thì nếu người đó chết sẽ áp dụng chế định “thế chấp”, “cầm cố” để ràng buộc trách nhiệm người bảo đảm và những người thừa kế phải thực hiện các nghĩa vụ hình thành trong tương lai theo quy định của BLDS về thế chấp.

2. Về người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác được chuyển từ hình thức bảo đảm là “bảo lãnh” thành hình thức bảo đảm bằng “cầm cố, thế chấp”

Vấn đề đặt ra ở đây là trường hợp này có làm thay đổi trách nhiệm của người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ hình thành trong tương lai khi bên bảo đảm này chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại hay không?

Khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 quy định nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh sau khi bên bảo lãnh chết thì người bảo lãnh không có trách nhiệm bảo lãnh nghĩa là “phạm vi bảo lãnh không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại”. Cho nên, có quan điểm cho rằng thay vì người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác với hình thức “bảo lãnh” thì chuyển sang hình thức “thế chấp”, đây là cách để tránh rủi ro khi người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác. Đồng thời, trong các hợp đồng này không nên sử dụng cụm từ “người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác” mà sử dụng cụm từ “bên bảo đảm bảo đảm nghĩa vụ” cho bên có nghĩa vụ hoặc trong hợp đồng chỉ thể hiện mối quan hệ giữa bên bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ với bên nhận bảo đảm, không sử dụng biện pháp bảo đảm với tên gọi “bảo lãnh” nên không bị áp dụng khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 trong trường hợp bên bảo lãnh chết.

Trong thực tế, các hợp đồng bảo đảm có người bảo lãnh nghĩa vụ cho người được bảo lãnh thì các ngân hàng sử dụng các tên rất khác nhau trong hợp đồng bảo đảm như “hợp đồng thế chấp”, “hợp đồng thế chấp và bảo lãnh”, “hợp đồng thế chấp của người thứ ba”… mà không gọi đúng tên của hình thức bảo đảm là “bảo lãnh”.

Tác giả cho rằng, trong quan hệ cho vay nói chung và trong quan hệ tín dụng nói riêng thì quan hệ giữa bên vay có dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của bên vay, quyền tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình và bên cho vay đồng thời là bên nhận bảo đảm thì chỉ tồn tại mối quan hệ hai bên là bên vay và bên cho vay.

Trong quan hệ vay nợ, quan hệ tín dụng mà bên vay không có tài sản để bảo đảm cho nghĩa vụ của mình, thì nên cần thêm một chủ thể nữa tham gia vào quan hệ này nhằm bảo đảm nghĩa vụ cho bên vay, đó là bên bảo đảm (bên thứ ba). Bộ luật Dân sự đã “đặt tên” cho quan hệ vay nợ có người khác đứng ra bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ là “bảo lãnh” hoặc “tín chấp”, tùy theo tính chất bảo đảm của bên bảo đảm.

 Nếu bên đứng ra bảo đảm nghĩa vụ cho người khác không phải là tổ chức FV 88 link không chặn, xã hội ở cơ sở, không bảo đảm bằng tín chấp thì dù bên bảo đảm chỉ cam kết chung chung hay cam kết dùng tài sản hoặc thực hiện một hành vi, một công việc để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ cho người khác phải xác định đó là quan hệ thuộc biện pháp bảo đảm là “bảo lãnh”. Do đó, dù có đặt tên cho quan hệ này là thế chấp, cầm cố… hay sử dụng thuật ngữ người thứ ba bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cho người khác hay không cũng không làm thay đổi bản chất của quan hệ bảo đảm này.

Chính vì vậy, khi người thứ ba bảo đảm nghĩa vụ cho người khác dù trong hợp đồng bảo đảm thể hiện với hình thức bảo đảm là “thế chấp” hay “cầm cố”… nếu nghĩa vụ trong hợp đồng bảo đảm là nghĩa vụ phát sinh trong tương lai thì phạm vi bảo đảm sẽ không bao gồm nghĩa vụ phát sinh sau khi bên bảo đảm (người thứ ba) chết hoặc pháp nhân bảo lãnh chấm dứt tồn tại. Do hiện nay cơ quan có thẩm quyền chưa có văn bản hướng dẫn nên trong thực tế, nếu có tranh chấp, khởi kiện thì phải áp dụng khoản 4 Điều 336 BLDS năm 2015 để tuyên bố các nghĩa vụ phát sinh trong tương lai mà nghĩa vụ này “phát sinh sau khi người bảo lãnh chết hoặc pháp nhân chấp dứt tồn tại” thì không còn tồn tại trách nhiệm của bên bảo lãnh dù tên gọi của hợp đồng về biện pháp bảo đảm là “thế chấp” hay “cầm cố”.

Tưởng Duy Lượng

Theo Tạp chí FV88 - nền tảng cá cược thể thao, lô đề, casino, slot game, đá gà uy tín tại Việt Nam in số 11/2025