Hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm để thực hiện “tranh tụng là đột phá”
Ngày đăng : 15:24, 02/03/2026
Tranh tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự, được ghi nhận trong Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2021 (gọi tắt là BLTTHS năm 2015). “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” có ý nghĩa nhấn mạnh vị trí, vai trò của tranh tụng trong giai đoạn xét xử. Tuy tranh tụng được ghi nhận trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, song nội dung thể hiện đầy đủ, rõ ràng nhất ở giai đoạn xét xử, dưới vai trò trọng tài của Tòa án, các bên buộc tội, gỡ tội và người tham gia tố tụng khác được bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, yêu cầu, góp phần làm rõ sự thật khách quan[1]. Vì vậy, nội dung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm không chỉ được quy định tại Điều 26 BLTTHS năm 2015 mà còn thể hiện ở nhiều quy định khác trong Bộ luật này.
Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn mới (Nghị quyết số 27-NQ/TW) đã khẳng định: “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá”. Việc coi “tranh tụng là đột phá” trong định hướng cải cách tư pháp thể hiện cần xác định việc đổi mới và tăng cường tranh tụng trong tố tụng nói chung, trong tố tụng hình sự nói riêng là khâu đột phá, đồng thời coi đây là một trong những giải pháp để xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh. Nói cách khác, tăng cường tranh tụng được xác định là khâu mấu chốt, có tính đột phá để đổi mới tố tụng tư pháp, thể hiện bước ngoặt trong cải cách tư pháp. Để thực hiện “tranh tụng là đột phá”, cần tiếp tục nghiên cứu, tháo gỡ một số vấn đề pháp lý xoay quanh nội dung nguyên tắc này, đặc biệt gắn với các yêu cầu cấp bách của cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
1. Một số vấn đề pháp lý đặt ra từ thực tiễn thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong tố tụng hình sự (TTHS), tranh tụng được xác định là sự tranh luận, đối đáp giữa các luồng ý kiến, quan điểm trái chiều của các bên (chủ yếu là bên buộc tội và bên gỡ tội) trên cơ sở chứng cứ, Fv88 com Nhà Cái Fv88 và lẽ phải để tìm ra sự thật, dưới sự điều khiển của Tòa án. Vì vậy, tranh tụng được cấu thành từ các yếu tố sau đây: Sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng, đặc biệt là bên buộc tội và bên gỡ tội; vai trò trung gian, độc lập của chủ thể xét xử (Tòa án); cơ chế để đảm bảo quyền của người bị buộc tội trong tranh tụng. Đây là các yếu tố nền tảng để hình thành nên tranh tụng nói chung, tranh tụng trong xét xử nói riêng.
Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm được quy định tại Điều 26 BLTTHS năm 2015, với các nội dung cơ bản như: Ghi nhận sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụng; xác định nghĩa vụ của Tòa án trong việc tạo điều kiện để các bên, đặc biệt là bên buộc tội được tranh tụng dân chủ, bình đẳng; quy định phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Với các nội dung chính đó, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm đã tạo ra cơ chế pháp lý tương đối đầy đủ cho tranh tụng trong TTHS được thực hiện. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng nguyên tắc có thể nhận thấy một số vấn đề pháp lý đặt ra như sau:
Thứ nhất, về yêu cầu “tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án do Viện kiểm sát chuyển đến phiên tòa để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp”. Theo tác giả, quy định này có sự mâu thuẫn với tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội. Theo đó, “chứng cứ đầy đủ, hợp pháp” được coi là cơ sở để mở phiên tòa xét xử và tiến hành tranh tụng tại phiên tòa. Nếu tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ chưa đầy đủ, hợp pháp thì Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung[2], Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đều có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung và trả một lần[3]. Việc quy định chứng cứ đầy đủ, hợp pháp là cơ sở để xét xử, ở góc độ nào đó đang làm bó hẹp tinh thần tranh tụng, khiến tranh tụng chỉ được thực hiện trong khuôn khổ tài liệu, chứng cứ (chủ yếu do cơ quan tiến hành tố tụng) đã thu thập được. Trong khi đó, bản chất của tranh tụng là việc các bên đưa ra chứng cứ, quan điểm, lập luận, đối đáp để làm sáng tỏ sự thật. Tại phiên tòa, bên cạnh chứng cứ còn có các lập luận pháp lý, nguyên tắc tố tụng, quan điểm đánh giá và tư duy pháp lý của Hội đồng xét xử. Trường hợp không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục luật định thì cơ quan tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội[4]. Như vậy, để đảm bảo tranh tụng dân chủ, khách quan, các bên cần được có cơ chế pháp lý bình đẳng như nhau. Quá trình điều tra, truy tố, khi chủ thể buộc tội đã áp dụng đầy đủ mọi biện Fv88 com Nhà Cái Fv88 định, trong thời hạn tố tụng tương ứng (thời hạn điều tra, truy tố) mà chứng cứ “không đầy đủ, hợp pháp” thì Tòa án vẫn phải đưa vụ án ra xét xử để các bên được tranh tụng dân chủ, khách quan, bình đẳng trước phiên tòa. Việc Tòa án có quyền trả hồ sơ điều tra bổ sung vô hình trung đã hạn chế bớt “lợi thế” của bên gỡ tội trong tranh tụng, thu hẹp phạm vi áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội, do tạo cơ hội củng cố chứng cứ đến cùng cho các cơ quan tiến hành tố tụng trước khi mở phiên tòa xét xử.
Thứ hai, về quyền của người bị buộc tội, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự trong việc đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Mặc dù Điều 26 BLTTHS năm 2015 quy định người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu. Tuy nhiên, khi quy định cụ thể quyền của từng chủ thể tố tụng này, BLTTHS năm 2015 chỉ ghi nhận họ có quyền “trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan” và “yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Để đánh giá chứng cứ, những người tham gia tố tụng nói trên phải đề nghị người tiến hành tố tụng thực hiện. Trong khi đó, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự lại có quyền đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan. Xét cho cùng, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng là để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội hoặc đương sự. Để thực hiện nhiệm vụ này, họ có quyền đánh giá chứng cứ. Trên cơ sở đó, người bào chữa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự sử dụng chứng cứ để xây dựng các lập luận, quan điểm đối đáp với bên buộc tội. Như vậy, cùng với mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng nhưng cơ chế để các tư cách tố tụng sử dụng lại khác nhau, không tương thích với quy định “người tham gia tố tụng được bình đẳng trong việc đánh giá chứng cứ” như nội dung nguyên tắc tranh tụng ghi nhận tại Điều 26 BLTTHS năm 2015.
Thứ ba, cơ chế để người bào chữa thu thập chứng cứ và cơ hội tiếp cận chứng cứ của bên gỡ tội còn hạn chế, ảnh hưởng đến việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm. Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định, người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ bằng cách gặp thân chủ bị hại, người làm chứng và những người biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày những vấn đề liên quan; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa. Quy định này cho thấy các biện pháp thu thập chứng cứ của người bào chữa mặc dù đã được mở rộng hơn, song vẫn còn hạn chế do hiệu lực, hiệu quả của các biện pháp phụ thuộc vào sự hợp tác của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. Trong khi đó, chủ thể buộc tội có quyền áp dụng nhiều biện pháp tố tụng khác nhau để thu thập chứng cứ, với một cơ chế hữu hiệu và hệ thống các biện pháp, chế tài xử lý. Điều này ảnh hưởng đến sự công bằng trong thu thập chứng cứ giữa một bên là người bào chữa đảm nhiệm vai trò gỡ tội với bên kia là các chủ thể đóng vai trò buộc tội[5].
Bên cạnh đó, cơ hội tiếp cận chứng cứ của bên gỡ tội cũng chưa thực sự được mở rộng. Một trong những điều kiện để tranh tụng khách quan, bình đẳng đó là các bên buộc tội, gỡ tội phải được tiếp cận chứng cứ của nhau một cách sớm nhất có thể. Tuy nhiên, trong mô hình kiểm soát Tham gia casino trực tuyến FV88, với đặc điểm hồ sơ vụ án là yếu tố chủ đạo, xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng thì yêu cầu bảo mật hồ sơ là cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu phòng chống Tham gia casino trực tuyến FV88 để bảo vệ lợi ích chung. Trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền và tăng cường bảo vệ quyền con người như hiện nay, việc từng bước nghiên cứu để tạo cơ chế pháp lý bình đẳng giữa các chủ thể tố tụng cần tiếp tục đặt ra. Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã quy định người bào chữa, bị can được tiếp xúc với chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ từ khi kết thúc điều tra, tuy nhiên chỉ giới hạn ở phạm vi “những tài liệu liên quan đến việc bào chữa” dẫn tới trên thực tế, mức độ tiếp cận chứng cứ của người bào chữa còn phụ thuộc vào sự đánh giá, quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Về nghĩa vụ giao nộp chứng cứ của người bào chữa: Tùy từng giai đoạn tố tụng, khi thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa, người bào chữa phải kịp thời giao cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng để đưa vào hồ sơ vụ án. Quy định này là phù hợp, giúp các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có điều kiện kiểm tra, đánh giá chứng cứ do người bào chữa thu thập. Tuy nhiên, việc quy định nghĩa vụ giao nộp “tùy từng giai đoạn tố tụng” còn khá chung chung, chưa chặt chẽ, dẫn đến chưa đảm bảo kịp thời việc giao nộp trên thực tế, vẫn còn trường hợp người bào chữa “ngâm” chứng cứ, ra phiên tòa mới xuất trình, khiến phiên tòa có thể bị tạm ngừng hoặc hoãn để xác minh thêm. Khi tiến hành thu thập, người bào chữa không phối hợp với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ của chứng cứ dẫn đến khi chuyển cho cơ quan tiến hành tố tụng đánh giá, chứng cứ không sử dụng được[6]. Những bất cập này không chỉ liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn, quyền và nghĩa vụ của các bên mà còn ảnh hưởng đến giá trị chứng minh của chứng cứ, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tranh tụng nói chung.
2. Yêu cầu tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm để thực hiện “tranh tụng là đột phá”
Việc hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trước hết cần đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp, đó là: “Xây dựng chế định tố tụng tư pháp lấy xét xử là trung tâm, tranh tụng là đột phá”. Yêu cầu “tranh tụng là đột phá” nhằm nhấn mạnh hơn nữa vai trò của tranh tụng trong xét xử, tăng cường tranh tụng nhằm tạo ra sự đổi mới mạnh mẽ, đột phá trong hoạt động tư pháp nói chung, trong xét xử các vụ án hình sự nói riêng. Tăng cường hoạt động tranh tụng sẽ mang lại những thay đổi mang tính bước ngoặt cho nền tư pháp, nâng cao tính công bằng, minh bạch trong xét xử, hạn chế oan sai, bảo vệ tốt hơn quyền con người, đặc biệt là quyền bào chữa của bị cáo; đồng thời góp phần nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Viện kiểm sát và Tòa án. Để thực hiện “tranh tụng là đột phá”, nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm, phải tiếp tục giải quyết 03 vấn đề cốt lõi gồm: (1) Tăng cường phân định rành mạch giữa các chủ thể buộc tội, gỡ tội, xét xử; (2) Đảm bảo quyền bình đẳng thực sự giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong việc đưa ra các chứng cứ, lập luận, quan điểm; (3) Phán quyết của Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Bên cạnh đó, việc tiếp tục hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm phải được đặt trong mối quan hệ với việc thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội trong tố tụng hình sự. Tranh tụng là phương tiện để thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, giúp cho quá trình buộc tội diễn ra khách quan, minh bạch. Qua tranh tụng, các tài liệu, chứng cứ được kiểm tra công khai, tranh luận dân chủ, bình đẳng, bên gỡ tội được kiểm tra, phản biện và làm rõ các chứng cứ buộc tội. Nếu việc buộc tội chỉ dựa vào lời khai, bên gỡ tội có quyền yêu cầu đối chất và áp dụng các biện pháp để kiểm tra độ tin cậy và bác bỏ các chứng cứ không có căn cứ và hợp pháp, là tiền đề để thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội. Ngược lại, nguyên tắc suy đoán vô tội giúp định hướng cho tranh tụng, đảm bảo rằng bị cáo không bị kết án nếu không có đủ chứng cứ xác thực, giúp cơ quan tiến hành tố tụng có quan điểm đúng đắn khi xác định giá trị chứng minh của chứng cứ. Nguyên tắc suy đoán vô tội là tiền đề, là cơ sở nhận thức để bảo đảm cho nguyên tắc tranh tụng được diễn ra bình đẳng giữa các bên, đảm bảo các chủ thể trong tranh tụng nhận thức và thực hiện đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của họ trong tranh tụng[7]. Vì vậy, nguyên tắc suy đoán vô tội đặt ra yêu cầu mà việc hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng phải đáp ứng, đó là cần ghi nhận quyền của người bị buộc tội được phản biện, đánh giá chứng cứ khi tranh tụng tại phiên tòa và quyền tiếp cận sớm đối với các chứng cứ buộc tội.
Về hoàn thiện nguyên tắc tranh tụng phải được đặt trong bối cảnh tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước trong lĩnh vực tư pháp: Nghị quyết số 27-NQ/TW cũng nhấn mạnh, cần xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể và mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền tư pháp; bảo đảm sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tư pháp. Nguyên tắc tranh tụng đề cập đến mối quan hệ giữa chủ thể xét xử và chủ thể buộc tội, đòi hỏi giữa các chủ thể này phải có sự phân định rõ ràng, không chồng chéo lẫn nhau. Vì vậy, nội dung nguyên tắc tranh tụng cần thể hiện được sự phân định rõ hơn giới hạn giữa chức năng buộc tội và chức năng xét xử, từ đó có ý nghĩa tăng cường sự phân công, kiểm soát quyền lực giữa Tòa án với Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra trong thực hiện quyền tư pháp, đảm bảo nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp trong bối cảnh mới.
3. Hoàn thiện nội dung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong giai đoạn mới
Để thực hiện “tranh tụng là đột phá”, việc hoàn thiện nội dung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm trong BLTTHS năm 2015 cần giải quyết được các bất cập và đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Trong đó, cần hoàn thiện một số nội dung sau:
Một là, cần nghiên cứu, điều chỉnh quy định tài liệu, chứng cứ đưa ra xét xử phải đầy đủ và hợp pháp, nhằm tăng cường sự độc lập của Tòa án và giúp chủ thể xét xử không bị ảnh hưởng bởi quan điểm nhận định, đánh giá chứng cứ của Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra. Một trong những yêu cầu cốt lõi của tranh tụng (đúng nghĩa) đó là đòi hỏi sự phân định rành mạch giữa các chủ thể và các chức năng cơ bản của tố tụng[8]. Chủ thể xét xử phải giữ vị trí trung lập, khách quan, độc lập với các bên buộc tội và gỡ tội. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quy định trên cần được đặt trong mối quan hệ tổng thể với các quy định khác của BLTTHS, trong đó, cốt lõi là nguyên tắc xác định sự thật - một nguyên tắc cơ bản, đặc trưng của mô hình tố tụng thẩm vấn. Với nguồn gốc xuất phát từ mô hình kiểm soát Tham gia casino trực tuyến FV88, tố tụng hình sự Việt Nam lấy nguyên tắc xác định sự thật làm một trong những nguyên tắc cơ bản chi phối quá trình tổ chức, vận hành của hệ thống tố tụng. Theo đó, các cơ quan tiến hành tố tụng đều có nghĩa vụ chứng minh sự thật của vụ án, với phạm vi chứng minh là sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tòa án không chỉ là chủ thể xét xử mà còn là chủ thể phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tố tụng khác thực hiện nghĩa vụ chứng minh và tìm kiếm sự thật. Tương tự, Viện kiểm sát không chỉ là chủ thể buộc tội mà còn là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh các góc độ khác của vụ án (tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết gỡ tội, về giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự). Vì vậy, hồ sơ vụ án chuyển đến Tòa để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp. Nếu thiếu chứng cứ quan trọng, có vi phạm tố tụng nghiêm trọng hoặc còn người khác hoặc hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, điều tra, truy tố thì Tòa án phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung. Từ thực tiễn đó đã phát sinh một “điểm vênh” đó là, nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi mọi phán quyết của Tòa án chỉ có thể được đưa ra trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trong khi đó, trước khi xét xử, Tòa án lại có quyền nhận định chứng cứ chưa đầy đủ, chưa hợp pháp, thậm chí được xác định có dấu hiệu sót, lọt Tham gia casino trực tuyến FV88. Để thực hiện “tranh tụng là đột phá”, cần thiết phải tháo gỡ vấn đề này, đảm bảo sự tách bạch và độc lập giữa chức năng buộc tội với chức năng xét xử, đồng thời không làm mất đi bản sắc của mô hình tố tụng hình sự Việt Nam (Tòa án có nghĩa vụ chứng minh sự thật).
Việc phân định các chức năng tố tụng là một quy luật tất yếu khách quan, tồn tại trong mọi mô hình tố tụng. Sự phân định đó càng rạch ròi thì hiệu quả kiểm soát quyền lực giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và hiệu quả chứng minh càng cao. Vì thế, Fv88 com Nhà Cái Fv88 tố tụng hình sự Việt Nam cần tiếp tục tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng, tăng cường thực hiện tranh tụng và áp dụng nguyên tắc suy đoán vô tội để bảo vệ quyền con người. Với cách tiếp cận đó, tuy hồ sơ vụ án vẫn được coi là trung tâm của quá trình tố tụng, song nội dung nguyên tắc tranh tụng không cần thiết quy định “tài liệu, chứng cứ đưa ra xét xử phải đầy đủ, hợp pháp”, nhằm đảm bảo việc tranh tụng được thực sự dân chủ, bình đẳng, khách quan, chỉ tôn trọng giá trị chứng minh của những chứng cứ được kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa. Tại phiên tòa, nếu xác định được tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ hoặc không hợp pháp thì Hội đồng xét xử có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Do đó, không cần thiết quy định thẩm quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu bỏ một số quy định của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền của Tòa án nhằm tăng cường sự phân định rành mạch giữa các chức năng tố tụng, đặc biệt giữa chức năng xét xử với chức năng buộc tội. Trước hết, cần bỏ thẩm quyền xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ của Tòa án[9], chuyển hoàn toàn quyền thu thập, bổ sung chứng cứ trong giai đoạn xét xử cho Viện kiểm sát, để Tòa án thực sự đóng vai trò trung lập khi đánh giá, sử dụng chứng cứ tại phiên tòa. Tiếp theo, cần thu hẹp giới hạn xét xử của Tòa án đối với trường hợp “xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn tội danh Viện kiểm sát truy tố”[10]. Việc mở rộng phạm vi giới hạn xét xử như BLTTHS hiện hành nhằm tăng cường tính độc lập của Tòa án, hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, giảm áp lực, tiết kiệm thời gian và chi phí tố tụng. Tuy nhiên, sự độc lập của Tòa án không thể làm xấu đi tình trạng của bị cáo so với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy, trường hợp Viện kiểm sát không truy tố lại thì tại phiên tòa sơ thẩm, mặc dù Tòa án có quyền đưa bị cáo ra xét xử về tội danh nặng hơn nhưng nội dung tranh tụng giữa các bên vẫn xoay quanh tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố, khiến Hội đồng xét xử khó có cơ sở để kết án bị cáo về tội danh nặng hơn[11]. Do đó, để tăng cường phân định các chức năng tố tụng trong tranh tụng, cần loại bỏ thẩm quyền của Tòa án trong việc đưa bị cáo ra xét xử về tội danh nặng hơn so với tội mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Hai là, cần khẳng định quyền đánh giá chứng cứ của người bị buộc tội, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các quy định cụ thể về từng tư cách tham gia tố tụng, phù hợp với quy định tại Điều 26 BLTTHS năm 2015. Theo đó, các chủ thể nói trên có quyền trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan, thể hiện quan điểm của họ về nguồn gốc, tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan của chứng cứ; xác định mức độ tin cậy, tính đầy đủ, thống nhất và sức thuyết phục của chứng cứ trong việc chứng minh sự thật; từ đó lập luận, đối đáp lại với các bên trong tranh tụng. Các quyền này không mâu thuẫn với địa vị pháp lý của họ trong tố tụng hình sự, mà ngược lại, đây là căn cứ giúp cho hoạt động tranh tụng được tăng cường.
Ba là, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thu thập chứng cứ và tăng cường cơ hội tiếp cận chứng cứ của người bào chữa, giúp họ bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Mặc dù, các biện pháp thu thập chứng cứ của người bào chữa hiện nay đã có sự hoàn thiện song hiệu lực áp dụng chưa cao. Để hỗ trợ người bào chữa, BLTTHS quy định trường hợp họ không thể thu thập được chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa thì có thể đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng thu thập[12], tuy nhiên để tăng cường hiệu lực của các biện pháp thu thập chứng cứ, giúp chủ thể này chủ động hơn trong việc tìm kiếm các thông tin phục vụ việc bào chữa, cần sửa đổi BLTTHS theo hướng cho phép người bào chữa đề nghị Viện kiểm sát hoặc Tòa án yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân phải cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ việc bào chữa. Từ đó, vừa giúp người bào chữa khai thác tối ưu hệ thống chứng cứ nhằm bảo vệ tốt hơn cho người bị buộc tội, vừa là cách thức để Viện kiểm sát tiếp cận hệ thống chứng cứ một cách toàn diện hơn.
Bên cạnh đó, cần nghiên cứu mở rộng phạm vi tiếp cận chứng cứ của bị can, bị cáo và người bào chữa. Theo đó, cần cho phép chủ thể này có quyền đọc, ghi chép, sao chụp những tài liệu mà họ cho là cần thiết đối với việc bào chữa (trừ những tài liệu liên quan đến bí mật nhà nước, bí mật nghiệp vụ). Đồng thời, bổ sung cơ chế giải quyết riêng đối với các khiếu nại của người bào chữa liên quan đến việc bị hạn chế tiếp cận tài liệu, chứng cứ. Cụ thể, Điều 475 BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền giải quyết khiếu nại cần được sửa đổi theo hướng, các khiếu nại của người bào chữa đối với CQĐT liên quan đến việc thu thập chứng cứ hoặc tiếp cận hồ sơ vụ án sẽ do Viện kiểm sát giải quyết; cho phép người bào chữa được đề nghị Viện kiểm sát kiểm sát trực tiếp hoạt động điều tra nếu có dấu hiệu vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Tại phiên tòa, người bào chữa có quyền yêu cầu đối chất để kiểm tra độ tin cậy của lời khai, làm căn cứ bác bỏ những chứng cứ không có giá trị chứng minh. Bên cạnh đó, Điều 108 BLTTHS năm 2015 về kiểm tra, đánh giá chứng cứ quy định các nguyên tắc kiểm tra, đánh giá từ góc độ đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án, để tăng cường đảm bảo thực hiện nguyên tắc tranh tụng, cần bổ sung quy định: “Các chứng cứ có lợi cho bị can, bị cáo phải được cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá thận trọng, đầy đủ, khách quan”. Khi đánh giá và sử dụng chứng cứ, cần ưu tiên kết quả tranh tụng hơn các chứng cứ đã có trong hồ sơ. Nếu có mâu thuẫn giữa các bên về chứng cứ hoặc lời khai, Hội đồng xét xử cần đánh giá trên cơ sở kết quả tranh tụng, không mặc nhiên công nhận tài liệu đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Cùng với việc mở rộng quyền tiếp cận chứng cứ cho người bào chữa, cần thiết phải quy định nghĩa vụ của họ trong việc giao nộp chứng cứ cho cơ quan tiến hành tố tụng và trách nhiệm phối hợp với cơ quan có thẩm quyền tố tụng để kiểm tra, đánh giá chứng cứ. Cụ thể, quy định thời hạn nhất định sau khi hoàn tất việc thu thập chứng cứ, người bào chữa phải chuyển giao tài liệu, đồ vật cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đưa vào hồ sơ vụ án; đồng thời, ngay từ khi tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ, người bào chữa phải có trách nhiệm thông báo với các cơ quan tiến hành tố tụng để kịp thời phối hợp, xem xét.
Bùi Thị Hạnh
---------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 27-NQ/TW về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
2. Bùi Thị Hạnh, Về giới hạn xét xử trong Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhân lực số tháng 06/2023.
3. Bùi Thị Hạnh, Hoàn thiện quy định của Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 hình sự về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, Tạp chí Khoa học Trường Đại học Mở Hà Nội, số 120/2024.
4. Nguyễn Văn Hiển, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
5. Nguyễn Văn Khoát, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động tranh tụng của FV88 - nền tảng cá cược thể thao, lô đề, casino, slot game, đá gà uy tín tại Việt Nam viên trong xét xử vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội, 2024.
6. Nguyễn Thị Mai, Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, 2021.
7. Hoàng Văn Thành, Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2015.
[1]. TS. Nguyễn Văn Khoát, Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động tranh tụng của FV88 - nền tảng cá cược thể thao, lô đề, casino, slot game, đá gà uy tín tại Việt Nam viên trong xét xử vụ án hình sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội, 2024.
[2]. Điều 280 BLTTHS năm 2015.
[3]. Điều 174 BLTTHS năm 2015.
[4]. Điều 13 BLTTHS năm 2015.
[5]. Nguyễn Thị Mai, 2021, Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận án tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
[6]. Nguyễn Tiến Hùng, Một số vấn đề đặt ra trong việc thu thập, tiếp nhận chứng cứ do người bào chữa thu thập, giao nộp trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự; xem: https://vksnd.gialai.gov.vn/Nghien-cuu-Trao-doi/mot-so-van-de-dat-ra-trong-viec-thu-thap-tiep-nhan-chung-cu-do-nguoi-bao-chua-thu-thap-giao-nop-trong-giai-doan-dieu-tra-vu-an-hinh-su-1844.html.
[7]. TS. Nguyễn Văn Hiển, 2011, Về nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[8]. TS. Nguyễn Văn Hiển, tlđd.
[9]. Điều 252 BLTTHS năm 2015.
[10]. Điều 298 BLTTHS năm 2015.
[11]. Bùi Thị Hạnh, Về giới hạn xét xử trong Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 hình sự Việt Nam, Tạp chí Nhân lực, số tháng 06/2023.
[12]. Điều 81 BLTTHS năm 2015.
