Thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản theo Fv88 com Nhà Cái Fv88 Việt Nam
Ngày đăng : 11:47, 23/01/2026
Điều 420 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015 quy định vấn đề thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trên thực tế, quy định này còn được áp dụng đối với quan hệ hợp đồng thương mại (HĐTM), vì Luật thương mại năm 2005 không có quy định cụ thể điều chỉnh trường hợp này. Nội dung của điều luật đã có những tác động theo hướng cân bằng về quyền lợi giữa các chủ thể trong HĐTM, tránh những thiệt hại không đáng có hoặc hạn chế tổn thất đến mức thấp nhất, tạo hướng mở để các chủ thể cùng đàm phán lại hợp đồng, nhằm giải quyết tốt những vấn đề phát sinh trên thực tế. Tuy nhiên, đây là quy định mới nên sau một thời gian áp dụng đã bộc lộ những hạn chế, bất cập nhất định, dẫn đến quyền lợi của các chủ thể trong HĐTM, nhất là bên có nghĩa vụ bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, chưa được bảo đảm một cách tốt nhất.
1. Quy định của Fv88 com Nhà Cái Fv88 về thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
1.1. Điều kiện để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Ở giai đoạn các bên trong HĐTM thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, hoàn cảnh có thể thay đổi đáng kể so với thời điểm giao kết hợp đồng, những thay đổi này đôi khi sẽ tác động đến các chủ thể của HĐTM, thậm chí còn gây tổn thất nghiêm trọng cho bên thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015 đã quy định rất cụ thể về 05 điều kiện để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản:
Thứ nhất, nguyên nhân và thời điểm thay đổi hoàn cảnh. Đối với điều kiện này, trước hết phải xác định sự thay đổi hoàn cảnh là do nguyên nhân khách quan. Bên cạnh đó, sự thay đổi hoàn cảnh còn phải xảy ra sau khi giao kết, tức là ở giai đoạn thực hiện hợp đồng. Điều này là hợp lý vì nếu trước hoặc tại thời điểm giao kết, hoàn cảnh đã có sự thay đổi, các chủ thể trong HĐTM đã biết hoặc phải biết sự kiện này nhưng vẫn tiếp tục ký kết HĐTM thì phải chấp nhận những tác động của nó. Song, các bên cũng không thể coi đây là hoàn cảnh thay đổi cơ bản vì đã nhận biết và có sự chuẩn bị từ trước. Ngược lại, việc hoàn cảnh có sự thay đổi sau khi giao kết hợp đồng là trường hợp bị động của các bên và khi đó, có thể lợi ích của một trong các bên sẽ bị ảnh hưởng khi thực hiện hợp đồng.
Thứ hai, tính không thể lường trước được. Về điều kiện này, BLDS năm 2015 quy định thời điểm các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh là tại thời điểm giao kết HĐTM. Việc xác định yếu tố này là không dễ dàng, bởi đây là yếu tố mang tính chủ quan và xuất phát từ ý thức của chủ thể trong HĐTM. Để xác định thời điểm giao kết hợp đồng, Điều 400 BLDS năm 2015 quy định cụ thể từng thời điểm trên thực tế các chủ thể có thể giao kết hợp đồng và các quy định này cũng được áp dụng cho HĐTM. Việc này giúp các
bên trong hợp đồng xác định được thời điểm giao kết tùy thuộc vào hình thức giao kết.
Bên cạnh đó, để đáp ứng điều kiện thứ hai, phải làm rõ việc không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh của các bên, không thể lường trước được có nghĩa là hoàn cảnh xảy ra mà các bên không thể nhìn thấy trước hoặc dự đoán trước vào thời điểm giao kết hợp đồng và phải xảy ra sau khi ký kết hợp đồng[1].
Thứ ba, hoàn cảnh thay đổi ảnh hưởng đến sự tồn tại hoặc nội dung của HĐTM. Theo đó, Fv88 com Nhà Cái Fv88 quy định bắt buộc hoàn cảnh thay đổi phải lớn đến mức nếu các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác. Có thể thấy, quy định này mang tính chất định tính, bởi việc xác định sự thay đổi lớn là bao nhiêu sẽ tùy vào tình hình thực tế và đánh giá của từng chủ thể. Điều kiện này đòi hỏi yếu tố tác động từ hoàn cảnh phải thật sự nghiêm trọng, vượt ra ngoài sự kiểm soát của các chủ thể trong HĐTM, có sự ảnh hưởng đến HĐTM hoặc nếu HĐTM được xác lập sẽ có sự thay đổi về mặt nội dung nếu các chủ thể biết tại thời điểm xác lập. Nếu việc thay đổi của hoàn cảnh vẫn nằm trong sự kiểm soát của các bên, hoặc có ảnh hưởng nhưng không đáng kể thì sẽ không đáp ứng điều kiện này.
Thứ tư, hoàn cảnh thực tế khi thực hiện hợp đồng bị thay đổi phải tác động gây tổn thất đến mức nghiêm trọng cho một bên, cụ thể là bên có lợi ích bị ảnh hưởng; cùng với đó là làm cho thỏa thuận ban đầu của các bên trong HĐTM không còn phù hợp, tức là nếu bên có nghĩa vụ tuân thủ theo cam kết đã thỏa thuận mà không có sự điều chỉnh thích hợp về mặt nội dung, thì sẽ phải chịu tổn thất nặng nề. Thay đổi nội dung hợp đồng là các bên sẽ thỏa thuận lại về quyền và nghĩa vụ, đó có thể là thay đổi một phần hoặc toàn bộ các điều khoản, quan trọng hơn là việc thay đổi nội dung hợp đồng phải hướng đến yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho bên thực hiện nghĩa vụ trong HĐTM.
Thứ năm, bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Theo quy định, hai yếu tố quan trọng để đáp ứng được điều kiện này là: (1) Đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng; (2) Không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích. Nếu thiếu một trong hai yếu tố sẽ không thể xác lập điều kiện này.
1.2. Quyền yêu cầu đàm phán lại hợp đồng thương mại
Theo quy định về quyền yêu cầu đàm phán lại HĐTM, khoản 2 Điều 420 BLDS năm 2015 đã thể hiện rất rõ hai vấn đề quan trọng, đó là: Chủ thể bị ảnh hưởng về lợi ích được quyền yêu cầu bên đối tác đàm phán lại HĐTM; thời hạn đàm phán phải hợp lý. Việc đàm phán lại do chính các bên thực hiện trên tinh thần thiện chí nhằm tìm kiếm sự cân bằng trở lại.
Theo Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: “Thời hạn hợp lý là khoảng thời gian được hình thành theo thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc là khoảng thời gian mà trong điều kiện bình thường, các bên trong hợp đồng bảo đảm, biện pháp bảo đảm hoặc chủ thể khác có quyền, lợi ích liên quan có thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ của mình''[2], nên có thể áp dụng tương tự Fv88 com Nhà Cái Fv88 đối với trường hợp đàm phán lại HĐTM. Thời hạn hợp lý để các bên đàm phán lại hợp đồng sẽ dựa trên thói quen đã được xác lập giữa các bên hoặc là khoảng thời gian mà trong điều kiện bình thường các bên có thể thực hiện việc đàm phán.
1.3. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết và việc tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của các bên
Nếu các bên không thể tự mình tái cân bằng hợp đồng, đòi hỏi phải có bên thứ ba có thẩm quyền giải quyết vấn đề này để giúp các bên bảo vệ quyền lợi của mình. Theo khoản 3 Điều 420 BLDS năm 2015, một trong các bên có quyền khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu bảo vệ quyền lợi cho mình; phạm vi yêu cầu là chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Trong quá trình giải quyết tranh chấp, Tòa án chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
Khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, các bên không thể lấy lý do đang trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng hay Tòa án đang giải quyết vụ việc để tạm ngừng thực hiện cam kết của mình, mặc dù việc tiếp tục thực hiện hợp đồng có thể sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Theo khoản 4 Điều 420 BLDS năm 2015, có thể hiểu chừng nào hợp đồng chưa được điều chỉnh lại hay chưa bị Tòa án (Trọng tài) cho chấm dứt thì hợp đồng vẫn có hiệu lực thực hiện giữa các bên. Do đó, các bên phải thực hiện cho dù các bên tiến hành thương lượng hợp đồng[3]. Khi các chủ thể xác lập quan hệ hợp đồng một cách hợp pháp, kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện nghĩa vụ với nhau theo nội dung đã thỏa thuận, mặc dù đã có đủ điều kiện xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, thậm chí đang trong giai đoạn đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng hay Tòa án giải quyết vụ việc. Bên cạnh đó, quy định này cũng cho phép các bên có thỏa thuận khác để đảm bảo phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, nghĩa là các bên có thể thỏa thuận tạm ngừng thực hiện nghĩa vụ. Điều này là hợp lý, vì nếu các bên thể hiện sự thiện chí của mình và một bên cho rằng sẽ không có rủi ro hoặc ảnh hưởng không quá lớn, thì hoàn toàn có thể thỏa thuận việc cho bên đối tác không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng.
2. Một số vướng mắc, bất cập trong quy định về thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Thứ nhất, theo điểm b khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015, “hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây: … Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”. Quy định này đòi hỏi bên có quyền và bên có nghĩa vụ trong HĐTM về mặt chủ quan không thể biết hay dự liệu trước, hoặc không có bất kỳ thông tin gì về sự kiện pháp lý nêu trên tại thời điểm giao kết hợp đồng. Việc xác định các bên không thể lường trước về sự thay đổi hoàn cảnh cũng cần dựa trên nhiều yếu tố, đó có thể là sự thừa nhận của các bên, dựa trên khả năng tiếp cận thông tin, bản chất hoàn cảnh thay đổi, khả năng nhận thức của các chủ thể trong HĐTM... Trong trường hợp không có căn cứ đánh giá nhận thức của các bên thì phải dựa trên nhận thức của một người bình thường ở hoàn cảnh tương tự. Trường hợp chỉ có một bên lường trước được sự thay đổi về hoàn cảnh thì cũng sẽ không đáp ứng điều kiện này. Cụ thể, nếu tại thời điểm giao kết hợp đồng bên có quyền biết trước về sự thay đổi hoàn cảnh, nhưng vì cho rằng không ảnh hưởng đến quyền lợi của mình nên vẫn chấp nhận giao kết hợp đồng và không có bất kỳ động thái gì để thông tin cho bên đối tác biết; còn bên có nghĩa vụ không biết mới giao kết hợp đồng; nhưng sau thời điểm giao kết hợp đồng thì hoàn cảnh thay đổi, bên có lợi ích bị ảnh hưởng lại chính là bên có nghĩa vụ. Theo đó, trường hợp trên không được xem là yếu tố để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản, do có một bên đã lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh. Điều này sẽ làm ảnh hưởng đến bên không thể biết hay dự liệu trước về sự thay đổi của yếu tố ngoại cảnh.
Thứ hai, theo điểm d khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015: “Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên”. Điều kiện này là cơ sở cần thiết để xác định hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Tuy nhiên, cụm từ “thiệt hại nghiêm trọng” còn mang tính chất định tính, vì quy định này không đưa ra tiêu chí xác định thiệt hại ở mức độ nào thì được coi là nghiêm trọng. Luật trao toàn quyền cho các bên và cơ quan xét xử quyết định thiệt hại có nghiêm trọng hay không. Điều này có thể dẫn đến một số ý kiến bất đồng trong việc diễn giải và áp dụng quy định này trên thực tế[4].
Vậy làm thế nào để xác định “thiệt hại nghiêm trọng”? Có phải việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng dẫn đến số tiền phải trả cho các khoản chi phí tăng lên hay làm cho một bên không đạt được một phần hoặc toàn bộ mục đích của việc giao kết hợp đồng được coi là thiệt hại nghiêm trọng hay không?… Đối với quy định mang tính chất định tính như trên thì việc xác định mức độ nghiêm trọng của thiệt hại trong thực tế sẽ tuỳ thuộc vào từng bối cảnh hợp đồng, phụ thuộc ý chí và khả năng chứng minh của các bên cũng như quan điểm của cơ quan xét xử[5]. Điều này có thể dẫn đến nhiều quan điểm khác nhau trong việc đánh giá có thiệt hại nghiêm trọng hay không, gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết tranh chấp này.
Thứ ba, về cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Khi các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự năm 2015: “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận''[6] và “các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của Fv88 com Nhà Cái Fv88”[7]. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 14 BLDS năm 2015 lại quy định: “1. Tòa án, cơ quan có thẩm quyền khác có trách nhiệm tôn trọng, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân. Trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp thì việc bảo vệ quyền được thực hiện theo Fv88 com Nhà Cái Fv88 tố tụng tại Tòa án hoặc trọng tài”. Theo đó, BLDS năm 2015 đã ghi nhận bên cạnh Tòa án thì Trọng tài cũng là cơ quan tài phán có thẩm quyền giải quyết trong trường hợp quyền dân sự bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Bên cạnh đó, Luật trọng tài thương mại năm 2010 quy định một trong các trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài là “tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại”[8], điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài là “tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”[9]; đồng thời, Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài: “Trong trường hợp các bên tranh chấp đã có thỏa thuận trọng tài mà một bên khởi kiện tại Tòa án thì Tòa án phải từ chối thụ lý, trừ trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được”[10].
Như vậy, khoản 3 Điều 420 BLDS năm 2015 mới chỉ nhắc đến chủ thể giải quyết tranh chấp là Tòa án, mà bỏ ngỏ vai trò của Trọng tài là chưa thực sự phù hợp. Nếu áp dụng theo hướng chỉ có Tòa án mới có thẩm quyền giải quyết tranh chấp HĐTM, thì các bên không thể thỏa thuận giải quyết bằng Trọng tài.
Thứ tư, về trường hợp bên có quyền không thể hiện sự thiện chí trong việc thỏa thuận, không đồng ý để bên có lợi ích bị ảnh hưởng tạm ngừng thực hiện hợp đồng. Lúc này, có thể dẫn đến trường hợp trước khi kết thúc quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng hay trước khi Tòa án giải quyết xong vụ án, các bên đã hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo HĐTM và gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho một bên. Vấn đề đặt ra là, việc các bên tiếp tục đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng và việc Tòa án ra bản án hoặc quyết định sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng có cần thiết nữa hay không và có giải quyết được vấn đề thiệt hại cho bên có lợi ích bị ảnh hưởng hay không?
3. Giải pháp hoàn thiện Fv88 com Nhà Cái Fv88 về thực hiện hợp đồng thương mại khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản
Thứ nhất, cần sửa đổi quy định “tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”[11] theo hướng “tại thời điểm giao kết hợp đồng, bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh”. Hoàn cảnh thay đổi cơ bản là một sự kiện pháp lý tác động trực tiếp đến bên có nghĩa vụ, bên có quyền cơ bản không bị ảnh hưởng bởi sự thay đổi này. Đề xuất trên sẽ ràng buộc bên có lợi ích bị ảnh hưởng không thể lường trước về sự thay đổi hoàn cảnh. Điều này là phù hợp với thực tế, vì quy định về hoàn cảnh thay đổi cơ bản là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên thực hiện hợp đồng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh, nên không cần ràng buộc bên còn lại.
Mặt khác, việc sửa đổi quy định như trên sẽ khắc phục trường hợp bên có quyền đưa ra lý do mình đã lường trước được sự thay đổi của hoàn cảnh để từ chối xác định hoàn cảnh có sự thay đổi cơ bản và đàm phán lại hợp đồng; đồng thời, hướng đến việc thúc đẩy bên có quyền khi đã lường trước về sự thay đổi hoàn cảnh sẽ thông báo cho bên đối tác biết để có sự điều chỉnh hợp đồng phù hợp hoặc không giao kết hợp đồng ngay từ đầu, tránh những bất lợi cho cả hai bên khi hoàn cảnh thay đổi sau khi giao kết hợp đồng.
Thứ hai, cần quy định rõ ràng thế nào là thiệt hại nghiêm trọng cho một bên theo hướng: Thiệt hại nghiêm trọng trong trường hợp này là việc một bên phải bỏ ra khoản chi phí hợp lý dùng để thực hiện hợp đồng nhưng lớn hơn so với lợi nhuận mà họ có được từ hợp đồng mang lại. Theo đó, việc xem xét sự tác động của hoàn cảnh thay đổi đến tình trạng kinh tế, với mức độ tổn thất cụ thể, sẽ giúp các bên trong hợp đồng và cơ quan giải quyết tranh chấp có cơ sở để xác định bên có lợi ích bị ảnh hưởng có bị thiệt hại nghiêm trọng hay không khi vẫn tiếp tục thực hiện HĐTM.
Thứ ba, cần sửa đổi quy định về thẩm quyền sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng khi có yêu cầu của một trong các bên. Bên cạnh Tòa án thì Trọng tài là nơi được các bên tranh chấp tin tưởng, lựa chọn với những ưu điểm nổi bật như: Thủ tục trọng tài áp dụng cho các tranh chấp thường đơn giản; các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải quyết tranh chấp; thủ tục trọng tài không trải qua nhiều cấp xét xử như ở Tòa án,…
Mặt khác, BLDS năm 2015 và Luật trọng tài thương mại năm 2010 cũng đã ghi nhận về thẩm quyền của Trọng tài trong việc giải quyết các tranh chấp, bảo vệ quyền dân sự của cá nhân, pháp nhân. Điều này cho thấy Điều 420 BLDS năm 2015 cần ghi nhận thẩm quyền của Trọng tài trong việc sửa đổi hoặc chấm dứt hợp đồng khi có yêu cầu của một trong các bên. Để đảm bảo sự thống nhất giữa BLDS năm 2015 với Luật trọng tài thương mại năm 2010, cần bổ sung thẩm quyền của Trọng tài tại khoản 3, 4 Điều 420 BLDS năm 2015 như sau:
… “3. Trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài: …
Tòa án và Trọng tài chỉ được quyết định việc sửa đổi hợp đồng trong trường hợp việc chấm dứt hợp đồng sẽ gây thiệt hại lớn hơn so với các chi phí để thực hiện hợp đồng nếu được sửa đổi.
4. Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.
Ngoài việc bổ sung chủ thể giải quyết tranh chấp là Trọng tài vào khoản 3, 4 Điều 420 BLDS năm 2015, cần điều chỉnh trường hợp các bên đã hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án, Trọng tài giải quyết vụ việc. Theo đó, bổ sung quy định này theo hướng: “Trong quá trình đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết vụ việc, các bên vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Trường hợp các bên đã hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng trước khi kết thúc đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết vụ việc, nếu bên có lợi ích bị ảnh hưởng bị thiệt hại nghiêm trọng thì các bên thỏa thuận để khắc phục một phần hoặc toàn bộ thiệt hại, trường hợp không thỏa thuận được thì một trong các bên yêu cầu Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết”.
Điều này giúp giải quyết vấn đề bên có lợi ích bị ảnh hưởng có thiệt hại nghiêm trọng khi đã hoàn thành việc thực hiện nghĩa vụ của mình theo hợp đồng trước khi kết thúc đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết vụ việc; đòi hỏi bên không bị ảnh hưởng thể hiện sự thiện chí của mình để giảm thiệt hại, chia sẻ rủi ro, khó khăn với bên đối tác. Trường hợp các bên chưa thống nhất được việc khắc phục thiệt hại của bên có lợi ích bị ảnh hưởng thì một trong các bên vẫn được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền (Tòa án hoặc Trọng tài) giải quyết.
Nguyễn Hoàng Chương
-------------------------------------------------------------------------
Tài liệu tham khảo:
1. Đỗ Văn Đại (2015), Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, https://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210176, truy cập ngày 04/10/2024.
2. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu, (2017), Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, https://phapluatdansu.edu.vn/2017/08/13/18/50/de-xuat-dien-giai-v-p-dung-dieu-420-bo-luat-dn-su-nam-2015-ve-thuc-hien-hop-dong-khi-hon-canh-thay-doi-co-ban/, truy cập ngày 01/10/2024.
3. Trần Chí Thành (2021), Áp dụng quy định Fv88 com Nhà Cái Fv88 về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong bối cảnh dịch Covid-19, https://www.tapchitoaan.vn/ap-dung-quy-dinh-phap-luat-ve-%E2%80%9Cthuc-hien-hop-dong-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban%E2%80%9D-trong-boi-canh-dich-covid-19, truy cập ngày 26/9/2024.
[1]. Trần Chí Thành (2021), Áp dụng quy định Fv88 com Nhà Cái Fv88 về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong bối cảnh dịch Covid-19, https://www.tapchitoaan.vn/ap-dung-quy-dinh-phap-luat-ve-%E2%80%9Cthuc-hien-hop-dong-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban%E2%80%9D-trong-boi-canh-dich-covid-19, truy cập ngày 26/9/2024.
[2]. Khoản 7 Điều 3 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 của Chính phủ quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
[3]. Đỗ Văn Đại (2015), Bàn thêm về điều chỉnh hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi, https://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210176, truy cập ngày 04/10/2024.
[4]. Nguyễn Minh Hằng và Trần Thị Giang Thu (2017), Đề xuất diễn giải và áp dụng Điều 420 BLDS năm 2015 về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, https://phapluatdansu.edu.vn/2017/08/13/18/50/de-xuat-dien-giai-v-p-dung-dieu-420-bo-luat-dn-su-nam-2015-ve-thuc-hien-hop-dong-khi-hon-canh-thay-doi-co-ban/, truy cập ngày 01/10/2024.
[5]. Trần Chí Thành (2021), Áp dụng quy định Fv88 com Nhà Cái Fv88 về “thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản” trong bối cảnh dịch Covid-19, https://www.tapchitoaan.vn/ap-dung-quy-dinh-phap-luat-ve-%E2%80%9Cthuc-hien-hop-dong-khi-hoan-canh-thay-doi-co-ban%E2%80%9D-trong-boi-canh-dich-covid-19, truy cập ngày 26/9/2024.
[6]. Khoản 1 Điều 30 Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự năm 2015.
[7]. Khoản 5 Điều 30 Bộ luật Fv88 com Nhà Cái Fv88 dân sự năm 2015.
[8]. Khoản 1 Điều 2 Luật trọng tài thương mại năm 2010.
[9]. Khoản 1 Điều 5 Luật trọng tài thương mại năm 2010.
[10]. Điều 6 Luật trọng tài thương mại năm 2010.
[11]. Điểm b khoản 1 Điều 420 BLDS năm 2015.
