
1. Thực trạng quy định Fv88 com Nhà Cái Fv88 về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam
- Về phạm vi đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng:
Điều 3 Luật thuế giá trị gia tăng (GTGT) năm 2024 quy định chung về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam trừ các đối tượng không chịu thuế được Fv88 com Nhà Cái Fv88 quy định. Có thể thấy nguyên tắc chung của thuế GTGT là đánh thuế rộng, bao quát hầu hết các giao dịch kinh tế phát sinh trong nền kinh tế nhằm bảo đảm nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, đồng thời bảo đảm tính trung lập của thuế đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh. Người nộp thuế bao gồm tổ chức, hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế; tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế; và các trường hợp mua dịch vụ từ nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam. Điều này đảm bảo thuế GTGT là loại thuế gián thu, với người tiêu dùng cuối cùng chịu gánh nặng thực tế, trong khi doanh nghiệp đóng vai trò trung gian thu hộ.
Hiện nay có 26 đối tượng không thuộc diện chịu thuế GTGT; đây là những hàng hóa, dịch vụ mang tính thiết yếu, phục vụ cho đời sống nhân dân, không mang tỉnh chất kinh doanh hoặc là những hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu vì mục tiêu nhân đạo, hàng hóa, dịch vụ của các ngành cần khuyến khích phát triển (như sản phẩm nông nghiệp, sản phẩm muối), hàng hóa, dịch vụ khó xác định giá trị tăng thêm (dịch vụ tín dụng, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm vật nuôi...), hàng hóa mang tính chất phục vụ nhu cầu đặc biệt của Nhà nước cần bảo mật (vũ khí, khí tài chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh,...)
Theo khoản 5 Luật thuế GTGT năm 2024 có thể thấy quy định về đối tượng không chịu thuế quá rộng và thiếu tính linh hoạt. Việc quy định danh mục hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT với phạm vi lớn đã và đang phát sinh nhiều bất cập trong thực tiễn áp dụng. Theo thông lệ quốc tế, số lượng nhóm hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế GTGT thường chỉ dao động từ 4 đến 10 nhóm. Trong khi đó, Luật thuế GTGT hiện hành của Việt Nam lại quy định tới 26 nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế. Việc một số hàng hóa, nguyên liệu, dịch vụ nằm trong diện không chịu thuế GTGT dẫn đến hệ quả là doanh nghiệp khi mua các yếu tố đầu vào này không được khấu trừ thuế GTGT đã nộp, từ đó làm gia tăng chi phí sản xuất, kinh doanh ở các khâu tiếp theo.
- Về ngưỡng doanh thu không chịu thuế:
Đối với ngưỡng doanh thu không chịu thuế được nêu tại khoản 25 Điều 5 Luật thuế GTGT năm 2024, sửa đổi năm 2025 được áp dụng từ ngày 01/01/2026. Theo đó, hàng hóa, dịch vụ của hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh có mức doanh thu hằng năm từ 500 triệu đồng trở xuống thuộc diện không chịu thuế GTGT. Tài sản của tổ chức, cá nhân không kinh doanh bán ra; hàng dự trữ quốc gia bán ra; và các khoản thu phí, lệ phí cũng thuộc nhóm này.
Có thể thấy, phạm vi áp dụng thuế GTGT không chỉ phụ thuộc vào danh mục hàng hóa, dịch vụ mà còn vào quy mô doanh thu của chủ thể cung cấp. Ví dụ, một hộ kinh doanh bán hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế (như thực phẩm chế biến) nhưng doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm sẽ không phải chịu thuế, trong khi doanh nghiệp lớn cùng bán hàng hóa đó phải áp dụng thuế suất 5-10%. Điều này tạo cơ chế hỗ trợ cho các chủ thể nhỏ, khuyến khích khởi nghiệp và giảm bất bình đẳng kinh tế. Tuy nhiên, nếu doanh thu vượt ngưỡng, hộ kinh doanh phải kê khai và nộp thuế theo phương pháp phù hợp (khấu trừ hoặc trực tiếp).
Tuy nhiên, vấn đề phát sinh nằm ở chỗ, cơ chế “vượt ngưỡng là chịu thuế từ đồng doanh thu đầu tiên”. Theo đó, hộ kinh doanh có doanh thu chỉ dưới 500 triệu đồng được miễn hoàn toàn thuế GTGT, trong khi hộ có doanh thu từ 500 triệu đồng trở lên lại phải nộp thuế GTGT trên toàn bộ doanh thu theo phương pháp trực tiếp với tỷ lệ phần trăm tùy ngành nghề.
Ngoài ra, ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm vẫn chưa thực sự phù hợp đối với một số ngành có biên độ lợi nhuận thấp. Nhiều ý kiến từ hộ kinh doanh và chuyên gia trong thực tiễn đầu năm 2026 cho rằng mức ngưỡng 500 triệu đồng chưa đủ hỗ trợ đối với các ngành có doanh thu cao nhưng lợi nhuận thấp. Thực tế các hộ kinh doanh nhỏ lẻ rất đa dạng, tùy tính chất và lĩnh vực ngành nghề chi phí đầu vào khác nhau, biên lợi nhuận cũng khác nhau. Cơ chế “vượt ngưỡng chịu thuế toàn phần” không chỉ tạo ra sự bất công cạnh tranh mà còn khuyến khích các hành vi né tránh thuế như tách địa điểm kinh doanh, che giấu doanh thu, mặc dù cơ quan thuế đã tăng cường kiểm tra, xử lý. Nhiều đề xuất cho rằng cần cân nhắc nâng ngưỡng doanh thu lên mức 750 triệu đến 01 tỉ đồng/năm hoặc nghiên cứu áp dụng cơ chế trừ ngưỡng khi tính thuế GTGT tương tự như thuế TNCN, nhằm phản ánh sát hơn khả năng nộp thuế thực tế của người kinh doanh trong bối cảnh kinh tế số và chi phí sinh hoạt gia tăng.
- Về hàng hóa, dịch vụ không phải kê khai, tính nộp thuế:
Trước đây, các sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất bán ra và ở khâu nhập khẩu thuộc diện không chịu thuế GTGT. Theo Nghị định số 181/2025/NĐ-CP được Chính Phủ ban hành nhằm quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT có hiệu lực ngày 01/7/2025, tại khâu kinh doanh thương mại, các sản phẩm này (trừ một số trường hợp đặc biệt) khi bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc hộ, cá nhân kinh doanh vẫn phải chịu thuế GTGT với mức thuế suất 5%. Quy định này cho thấy trên thực tế giá bán của nhóm hàng hóa này ở khâu cuối cùng khi đến tay người tiêu dùng sẽ tăng lên. Hiện nay, đa số các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm các nguyên liệu đầu vào như các sản phẩm trong trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải sản sẽ không thu mua trực tiếp ở người nông dân mà sẽ thu mua từ các doanh nghiệp, hợp tác xã ở các khâu thương mại. Điều này làm cho giá của nguyên vật liệu nông sản, thủy hải sản sẽ bị tăng lên từ đó, gây khó khăn cho các nhà sản xuất các sản phẩm từ lĩnh vực nông nghiệp. Để tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn đó thì tại điểm a khoản 1 Điều 1, khoản 1 Điều 5 Luật thuế GTGT năm 2024, sửa đổi năm 2025 đã bổ sung đối tượng không chịu thuế như sau:
“1. Sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường của tổ chức, cá nhân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu.
Doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng nhưng được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào.”
Luật thuế GTGT năm 2024, sửa đổi năm 2025 đã bổ sung nhóm hàng hóa không phải kê khai, nộp thuế GTGT nhưng vẫn được khấu trừ thuế đầu vào. Như vậy, từ khi Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 thì các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mua sản phẩm cây trồng, rừng trồng, chăn nuôi, thủy sản nuôi trồng, đánh bắt chưa chế biến thành các sản phẩm khác hoặc chỉ qua sơ chế thông thường bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác thì không phải chịu thuế GTGT đầu ra nhưng vẫn được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào, có nghĩa là phần thuế mà họ đã trả cho các chi phí đầu vào sẽ được khấu trừ. Đây là thay đổi có ý nghĩa quan trọng trong lĩnh vực nông nghiệp, thể hiện sự thay đổi trong tư duy chính sách thuế theo hướng hỗ trợ chuỗi giá trị nông nghiệp và giảm gánh nặng thuế cho các chủ thể tham gia lưu thông hàng hóa.
Quy định này tiếp tục được cụ thể hóa tại Nghị định số 395/2025/NĐ-CP được Chính phủ ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2025/NĐ-CP ngày/72025 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế GTGT, sự thay đổi này nhằm chuẩn hóa các quy định tại luật mới. Theo đó, đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, nếu bán các sản phẩm nông nghiệp theo quy định cho doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã khác ở khâu kinh doanh thương mại thì không phải tính thuế GTGT. Tuy nhiên, trong trường hợp bán cho hộ, cá nhân sản xuất, kinh doanh hoặc các tổ chức, cá nhân khác thì vẫn phải áp dụng mức thuế suất GTGT 5%. Đối với các chủ thể nộp thuế theo phương pháp trực tiếp, thì thuế GTGT sẽ không được khấu trừ, khi bán các sản phẩm này ở khâu kinh doanh thương mại thì thuế GTGT phải nộp được xác định theo tỷ lệ 1% trên doanh thu.
Ngoài ra, việc bãi bỏ phương pháp khoán và chuyển sang phương pháp kê khai theo doanh thu thực tế từ ngày 01/01/2026 đã làm gia tăng gánh nặng tuân thủ đối với hộ kinh doanh nhỏ. Theo Quyết định số 3389/QĐ-BTC của Bộ Tài chính đã phê duyệt Đề án “Chuyển đổi mô hình và phương pháp quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi xóa bỏ thuế khoán”, phương pháp khoán được bãi bỏ và thay thế bằng cơ chế kê khai doanh thu thực tế. Mặc dù đây là bước đi cần thiết nhằm nâng cao tính minh bạch và chống thất thu thuế, song trong ngắn hạn, nhiều hộ kinh doanh, đặc biệt là hộ có doanh thu dưới 500 triệu đồng/năm, gặp không ít khó khăn trong việc tuân thủ các quy định mới. Trên thực tế, dù được miễn thuế GTGT và thuế TNCN, các hộ này vẫn phải thực hiện hàng loạt nghĩa vụ hành chính như ghi chép sổ sách doanh thu, kê khai định kỳ, thông báo doanh thu thực tế với cơ quan thuế, thậm chí mở tài khoản ngân hàng riêng để theo dõi dòng tiền. Không ít trường hợp đã bị xử phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 40 đến 80 triệu đồng hoặc cao hơn do chậm kê khai, không đăng ký hoặc kê khai sai, dù không phát sinh nghĩa vụ nộp thuế. Điều này làm giảm tính thân thiện của chính sách thuế, ảnh hưởng đến sự tự nguyện tuân thủ của người nộp thuế.
2. Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện khung pháp lý về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam
Một là, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Fv88 com Nhà Cái Fv88 nhằm hoàn thiện quy định về đối tượng không chịu thuế. Đề xuất thu hẹp danh mục hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế cũng như mở rộng đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng. Việc thu hẹp danh mục không chịu thuế GTGT là một trong những giải pháp then chốt nhằm đảm bảo tính trung lập, minh bạch và hiệu quả của thuế giá trị gia tăng, đồng thời phù hợp hơn với thông lệ quốc tế về thuế VAT/GST hiện đại; chỉ giữ lại những nhóm thực sự cần thiết phải không chịu thuế bao gồm các nhóm: (i) Các loại nông sản chưa chế biến hoặc chỉ mới qua sơ chế thông thường do nông dân tự sản xuất, đánh bắt bán ra và ở khâu nhập khẩu, nhằm khuyến khích tiêu thụ các sản phẩm của nông dân, khuyến khích đầu tư nông nghiệp; (ii) Các loại dịch vụ xã hội cơ bản và phúc lợi xã hội, đảm bảo thực hiện chức năng quản lý kinh tế – xã hội của nhà nước; (iii) Hàng hóa chuyên dụng cho an ninh quốc phòng, phục vụ cho công tác bảo vệ Tổ quốc; (iv) Các loại hàng hóa dịch vụ không chịu thuế GTGT theo thông lệ quốc tế như vận tải biển, hàng quá cảnh,… Còn lại những hàng hóa, dịch vụ không thuộc trong nhóm này sẽ là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng.
Hai là, điều chỉnh linh hoạt ngưỡng doanh thu không chịu thuế sao cho phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội. Đối với quy định về ngưỡng doanh thu 500 triệu đồng/năm không chịu thuế GTGT đối với hộ, cá nhân kinh doanh, cần nghiên cứu điều chỉnh cơ chế tính thuế nhằm giảm thiểu sự bất công giữa các hộ dưới và trên ngưỡng. Giải pháp khả thi là chỉ tính thuế GTGT trên phần doanh thu vượt ngưỡng thay vì áp dụng trên toàn bộ doanh thu khi vượt ngưỡng dù chỉ một đồng, tương tự như cơ chế trừ ngưỡng đang được áp dụng đối với thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, trong bối cảnh chi phí sinh hoạt tăng cao và sự phát triển của kinh tế số, có thể cân nhắc nâng ngưỡng doanh thu không chịu thuế GTGT lên mức cao hơn, chẳng hạn 750 triệu đồng đến 01 tỉ đồng/năm đối với một số ngành nghề có tỷ suất lợi nhuận thấp. Việc điều chỉnh này không chỉ góp phần bảo đảm công bằng thuế theo khả năng nộp thuế thực tế mà còn hạn chế các hành vi né tránh thuế như chia nhỏ doanh thu, tách giấy phép kinh doanh.
Ba là, để phát huy tối đa hiệu quả của quy định mới về hàng hóa, dịch vụ không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT đối với sản phẩm nông nghiệp chưa chế biến ở khâu thương mại, đồng thời khắc phục các rủi ro tiềm ẩn như lạm dụng để tránh thuế hoặc nhầm lẫn trong áp dụng, cần triển khai đồng bộ một số biện pháp cụ thể. Trước hết, cần sớm ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết hơn về tiêu chí xác định “sơ chế thông thường”, cách lập và ghi chú hóa đơn (gạch chéo thuế suất), chứng từ chứng minh khấu trừ đầu vào, cũng như quy trình kiểm tra chéo dữ liệu giữa các khâu thương mại. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế giám sát liên thông bằng cách tích hợp dữ liệu từ hệ thống hóa đơn điện tử với cơ sở dữ liệu quản lý nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, từ đó kiểm soát chặt chẽ giao dịch giữa các doanh nghiệp, giảm gian lận và thất thu ngân sách. Đồng thời, khuyến khích hộ nông dân và hợp tác xã nhỏ liên kết trực tiếp với doanh nghiệp lớn để tận dụng ưu đãi, góp phần ổn định chuỗi cung ứng, giảm giá nguyên liệu đầu vào và thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp Việt Nam.
Bốn là, tăng cường hỗ trợ chuyển đổi số, giảm gánh nặng hành chính và nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh. Cơ quan thuế cần tiếp tục đẩy mạnh công tác hướng dẫn, hỗ trợ người nộp thuế thông qua nhiều hình thức đa dạng như cổng thông tin điện tử, tài liệu hướng dẫn trực tuyến, đường dây hỗ trợ, cũng như các hội thảo, lớp tập huấn tại địa phương. Tuy nhiên, việc kiểm tra, xử lý cần được thực hiện một cách hợp lý, tránh lạm dụng biện pháp truy thu, xử phạt mang tính áp đặt, gây áp lực quá lớn đối với các hộ kinh doanh nhỏ, siêu nhỏ. Theo đó, có thể nghiên cứu áp dụng các cơ chế khuyến khích tuân thủ tự nguyện như giảm nhẹ mức xử phạt đối với lần đầu vi phạm hành chính do thiếu hiểu biết, hoặc tổ chức các chương trình đào tạo, tư vấn kế toán - thuế miễn phí cho hộ kinh doanh.
Vi Thị Hoàng Anh - Bùi Việt Anh - Trần Linh Chi - Nguyễn Hoàng Luân
Bài viết chưa có bình luận nào.